Chăm lo đời sống giáo viên vùng cao
|
|
Thầy, trò Trường Tiểu học Sơn Hải trên đường đến trường. |
Thầy giáo Nguyễn Trung Hiếu, Hiệu trưởng Trường Tiểu học xã Cấm Sơn đã 14 năm bám trụ tại xã vùng cao cứ phân vân khi biết chúng tôi muốn tìm hiểu về đời sống của giáo viên nơi đây. Khoảng 10 năm trở lại đây, ngoài chế độ ưu đãi cho GVVC, hệ thống trường lớp của xã được đầu tư xây dựng khá hoàn chỉnh, kể cả điểm lẻ; đường từ trung tâm huyện đến xã tuy xa nhưng hầu hết đã được cứng hóa; nhà công vụ cho giáo viên cũng được đầu tư xây dựng đầy đủ.
Ngoài ra, ở hầu hết các trường, điểm trường, GVVC đều có thể tự tăng gia, cải thiện bữa ăn hàng ngày. Có khó khăn chăng chỉ là những thiệt thòi về đời sống tinh thần và sự cách trở về địa lý đối với những thầy, cô giáo từ địa phương khác được điều chuyển về giảng dạy ở vùng cao.
Một mẫu số chung cho những người gắn bó với vùng cao từ 10 năm trở lên là họ đều lập gia đình và trở thành công dân đích thực ở nơi đến. Không nói đâu xa, chính thầy Hiếu cũng ghi tên vào danh sách này bằng việc cưới một cô giáo người địa phương để sinh cơ lập nghiệp nơi này.
Chuyện của cô giáo Lê Thị Cước (SN 1964), quê ở tỉnh Bắc Ninh cũng khá đặc biệt. Năm 1984, vừa ra trường, cô tình nguyện lên Cấm Sơn giảng dạy. Cô Cước nhớ lại: "Những năm đó, xã vùng cao Cấm Sơn vô cùng gian khó. Chúng tôi đạp xe từ trung tâm huyện lên xã mất đúng một ngày. Bữa ăn đầu tiên được các cô giáo cũ mời là mấy củ sắn luộc ăn kèm với cá khô nướng. Lúc đó do không có nhà công vụ, các cô tự dựng những túp lều bên cạnh lớp học - cũng là những căn nhà lợp tranh, vách nứa, để ở. Cuộc sống khó khăn là thế nhưng chúng tôi không bao giờ thiếu tiếng cười”.
Chuyện của cô Cước gắn bó với vùng cao là kết quả của mối tình "đẹp như bức tranh miền sơn cước". Số là các cô giáo miền xuôi lên đây giống như ngôi sao giữa bản làng nên nhiều trai bản luôn tìm cách tiếp cận, làm quen. Hồi đó, gần như đánh bắt cá ở hồ Cấm Sơn là nguồn sống chính của hàng trăm hộ trong xã.
Trong số những ngư dân bản địa, có một chàng trai cứ sau mẻ lưới đêm lại mang mớ cá để các cô giáo cắm bản cải thiện. Cứ thế, chàng trai trở thành "người nhà" của những thầy, cô giáo lúc nào không hay, nhất là cô giáo trẻ Lê Thị Cước. Năm 1998, họ lập gia đình, sau khi sinh được ba con thì chồng cô mắc bệnh qua đời. Thế là từ một người đi "khai hoá", cô tình nguyện ở lại Cấm Sơn nuôi ba con khôn lớn.
Đối với GVVC, nhất là những thầy, cô giáo trẻ mới ra trường được phân công lên vùng cao công tác đều cho rằng khó khăn nhất là việc đi lại. Điểm trường Đồng Mậm thuộc Trường Tiểu học Sơn Hải nằm giữa lòng hồ Cấm Sơn, các cô giáo cắm bản ngoài việc có bằng lái xe máy buộc phải có nghề lái đò hoặc biết chèo thuyền tay. Mỗi tuần một lần cả trường lại cùng về xã gặp gỡ người thân hoặc cắt cử người đi làm nhiệm vụ tiếp vận lương thực, thực phẩm. Giống như Robinson, các cô giáo có thêm nghề tay trái là trồng rau, nuôi gà, còn các thầy thạo câu cá, thả lưới... Vậy mà từ khi thành lập điểm trường này, chưa có trường hợp thầy cô nào "đào ngũ". Và cũng lâu lắm rồi ở điểm trường này chưa có học sinh nào bỏ học giữa chừng. Có lẽ chính tình cảm thầy trò đã giữ các cô và kéo các em lại gần nhau, giữ cho điểm trường nơi lòng hồ luôn rộn tiếng giảng bài.
Đồng cảm với những khó khăn của GVVC, ông Trần Quang Tấn, Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn chia sẻ: “Các xã vùng cao, vùng lòng hồ của Lục Ngạn còn nhiều khó khăn, ngành giáo dục cũng không nằm ngoài tình trạng chung đó. Ngoài những chế độ, chính sách của ngành đối với giáo viên, huyện cũng chú trọng dành cho các thầy, cô giáo sự quan tâm hết sức có thể. Tuy nhiên, vì huyện còn nghèo, sự quan tâm vẫn còn nhiều hạn chế”.
Có thể thấy, bức tranh sáng màu của giáo dục vùng cao Lục Ngạn có sự góp sức không nhỏ của đội ngũ giáo viên đang ngày ngày bám lớp, bám trường. Mặc dù đã được hưởng nhiều ưu đãi, thuận lợi nhưng không phải đội ngũ GVVC đã hết những khó khăn. Còn nhiều điểm trường nằm ở nơi xa xôi, mùa mưa chỉ có thể đi bộ hay có điểm phải đi thuyền.
Hơn nữa, điều kiện sống ở vùng cao còn nhiều khó khăn, nhất là đối với những thầy cô từ nơi khác về công tác. Đó còn chưa kể sự giao lưu, học hỏi, trao đổi, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, sự quan tâm của một số địa phương, nhân dân đối với giáo dục và đội ngũ giáo viên còn chưa sâu sát, thoả đáng. Vì vậy, trong điều kiện có thể, cấp ủy, chính quyền địa phương, trực tiếp là ngành giáo dục cần quan tâm triển khai thực hiện nghiêm túc, rõ ràng, công khai cơ chế và quyết định thuyên chuyển đối với hạn mức giảng dạy tại vùng cao để các thầy cô yên tâm công tác, cống hiến.
Nam Phong
Bắc Ninh
















Ý kiến bạn đọc (0)